1. Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Tràng giang, mẫu số 1 (Chuẩn) Huy Cận là cây bút tiêu biểu trong phong trào thơ Mới. Đến với thơ Huy Cận, người đọc sẽ dễ dàng rung động bởi nỗi buồn man mác quẩn quanh. Tràng Giang là một tác phẩm như thế. Bài thơ sẽ gợi lên cho chúng Đề bài: - chứng minh thiên nhiên đẹp và gợi cảm qua những bài thơ tràng giang của huy cận, đây mùa thu tới của xuân diệu, đây thôn vĩ dạ của hàn mặc tử Hỏi lúc: 9 tháng trước Văn mẫu đề bài: Giáo án Ngữ văn 12 chủ đề Thơ kháng chiến chống pháp 18/10/2022 - by Văn học nghệ thuật - Leave a Comment A. HOẠT ĐỘNG 1: Khởi động. Top 7 mẫu cảm nhận bài thơ Vội vàng hay nhất. Top 6 bài phân tích bài thơ Vội vàng siêu hay. 1. Dàn ý phân tích bài thơ Tràng Giang. I. Mở bài: - Giới thiệu những nét chính về tác giả Huy Cận (đặc điểm tiểu sử, con người, các sáng tác tiêu biểu, đặc điểm sáng tác Ths Dáp Thanh Giang | tổng hợp bài viết theo chủ đề Ths Dáp Thanh Giang - Tin tức về Ths Dáp Thanh Giang, trang tin tức với hàng triệu tin tức thuộc lĩnh vực Ths Dáp Thanh Giang, nhanh gọn, chính xác, tin cậy và uy tín hàng đầu tại Vi - Mạng thông tin y tế, bệnh viện, phòng khám, bài thuốc hay, thông tin y tế mới nhất, cập i1Wec. Đề bài So sánh cái tôi trong bài thơ Vội vàng và bài thơ Tràng giang là một đề bài hay những không hề đơn giản đối với các em học sinh học chương trình đại trà. Vì vậy mà chuyên mục văn mẫu 11 tổng hợp kiến thức, tài liệu bổ trợ giúp các em học sinh có thể giải quyết đề bài này phù hợp với mức độ, nhu cầu của tính chất bài kiểm tra, bài em học sinh có thể dựa vào dàn ý dưới đây cùng với những nội dung phân tích bài thơ Tràng giang - Huy Cận và dàn ý phân tích bài Vội vàng - Xuân Diệu, để từ đó triển khai thành bài văn hoàn chỉnh cho đề bài So sánh cái tôi trong bài thơ Vội vàng và bài thơ Tràng giang. So sánh cái tôi trong Vội vàng và Tràng giangDàn ý so sánh cái tôi trong bài Vội vàng và Tràng giangDàn ý dưới đây được định hướng làm bài theo từng tác phẩm cụ thể sau đó tổng hợp lại và đưa ra những điểm giống - khác giữa hai cái tôi trong hai bài thơ cùng bài thơ Vội vàng - Xuân Diệu1. Tình yêu cuộc sống say mê, tha thiết của nhà thơ- 4 câu mở đầu Thể hiện cái tôi khát vọng muốn núi héo làm ngưng sự vận động của thời gian, vũ trụ để giữ mãi hương sắc của mùa xuân, tuổi muốn “Tắt nắng” “buộc gió”-> Điệp từ, câu ngắn trùng lặp cấu trúc=> Lấy cái tôi chủ quan để thay đổi quy luật tự nhiên. Quả là ý tưởng táo bạo, xuất phát từ một trái tim yêu cuộc sống đến tha thiết say Nhà thơ vui sướng, ngây ngất trước hương sắc của cuộc đời đầy quyến rũ, sự phong phú và giàu có của thiên nhiên, cuộc sống, tuổi trẻ.+ Cảnh vật hiện lên dưới con mắt của nhà thơ thật phong phú, rực rỡ, tươi đẹp và đầy nhựa sống. Tuần tháng mật Hoa đồng nội Này đây Lá cành tơ yến anh, khúc tình si ánh sáng Thần vui hằng gõ cửa-> Điệp từ, nhân hoá+ Cảm giác hạnh phúc được nhà thơ thể hiện qua câu thơ táo bạo, so sánh độc đáo “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”=> Xuân Diệu đã vật chất hoá thời gian, câu thơ không chỉ gợi hình thể mà còn gợi cả hương thơm vị ngọt khiến người ta đắm say, ngất Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời- Niềm vui sướng như khựng lại khi Xuân Diệu nhận ra giới hạn của thời gian “Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa”- Nhà thơ cảm thấy buồn bã, lo sợ, tiếc nuối khi ý thức được sự trôi chảy xủa thời gian"Xuân đương tới nghĩa là xuân đương quaXuân còn non nghĩa là xuân sẽ giàVà xuân hết nghĩa là tôi cũng mấtLòng tôi rộng nhưng lượng đời cứ chật...Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoànNếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại"=> Với điệp từ “xuân” kết hợp với những cặp từ đối lập tạo thành một nỗi day dứt một niềm tiếc nuối khôn Xuân Diệu biết mùa xuân rồi sẽ tàn phai, tuổi trẻ rồi cũng trôi qua, cho nên trong cái tươi đẹp mơn mởn của nó tác giả đã nhìn thấy sự tàn úa.+ Điệp từ “nghĩa là” vừa như muốn giải thích nhưng ẩn sau đó là một nỗi lo lắng, hốt hoảng trước sự trôi chảy của thời gian.+ Đối lập làm tăng sự lo lắng khi nhận thấy cái hữu hạn của đời người và cái vô hạn của thời gian.+ Cảnh vật như lao nhanh tới sự tàn phá, héo úa và chia phôi. Tâm trạng của nhà thơ có phần nào đó rơi vào sự tuyệt vọng.“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”3. Khát vọng sống, khát vọng yêu đương cuồng nhiệt hối hả- Đang chìm đắm trong đau buồn, tuyệt vọng nhà thơ chợt nhận ra thời gian của tuổi xuân vẫn còn nên lên tiếng giục giã “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”- Tác giả vội vàng, gấp gáp muốn tận hưởng tất cả cuộc sống, tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc.+ Ta muốn ôm, riết, say, thâu, cắn vào non nước, cỏ cây, gió mây, sự sống, xuân hồng+ Với nhịp thơ dồn dập, ngắt nhịp linh hoạt, câu mệnh lệnh trực tiếp biểu cảm khát vọng sôi nổi của trái tim nhà thơ.+ Hình ảnh phong phú tượng trưng cho thanh sắc của thời gian sự sống mơn mởn, mây đưa gió lượn, cánh bướm tình yêu, mùi thơm ánh sáng…+ Tình yêu nồng nàn, khoẻ khoắn cao độ được biểu hiện bằng nhiều động từ liên tiếp ôm, riết, say, thâu. Nhiều tính từ chuếnh choáng, no nê, đã đầy…+ Nhà thơ cảm nhận niềm hạnh phúc bằng tất cả các giác quan, trạng thái say mê, ngây ngất.+ Từ ngữ, hình ảnh táo bạo ở câu cuối cho thấy Xuân Diệu rất say mê cuộc sống, khát khao và muốn tận hưởng tình yêu, hạnh phúc ngay trên chính cuộc đời Bài thơ thể hiện tư tưởng nhân sinh quan tích cực của tác giả, lòng yêu cuộc sống, yêu đời, yêu tuổi trẻ một cách mãnh liệt, cuồng Bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu Cảm nhận thiên nhiên tinh tế, sử dụng điệp ngữ so sánh độc đáo, hình ảnh thơ khoẻ khoắn, nồng nàng, từ ngữ gợi cảm, táo bài thơ Tràng giang - Huy Cận1. Nhan đề và lời đề từ- Nhan đề+ Ban đầu có tên “Chiều bên sông” gắn với bút pháp tả thực, sau đổi thành “Tràng giang”.+ Tràng giang âm hưởng từ Hán - Việt gợi không khí cổ kính và đầy tính khái quát không chỉ gợi sự mênh mông bát ngát của không gian mà còn gợi nỗi buồn mênh mang rợn Lời đề từ Thâu tóm khá chính xác và tinh tế cả tình bâng khuâng, thương nhớ và cảnh trời rộng, sông dài của bài Bức tranh thiên nhiên- Không gian mênh mang, bao la, rộng lớn “Trời rộng sông dài”.- Cảnh vật hiu quạnh, hoang vắng, đơn lẻ, hiu hắt buồn+ Hình ảnh mang đậm màu sắc cổ điển sóng, con thuyền, cồn nhỏ đìu hiu, bến cô liêu… Mây đùn núi bạc, cánh chim nghiêng -> Đây là những thi liệu quen thuộc trong thơ Đường, Tống, gợi lên một sự vắng vẽ, lặng lẽ, buồn.+ Thế nhưng bức tranh "Tràng giang" vẫn gần gũi, thân thuộc với mọi tấm lòng Việt Nam bởi “cành củi khô”, “tiếng làng xa vãn chợ chiều” -> Đó là những âm thanh, hình ảnh của cuộc sống con người của miền quê Việt Sự đối lập giữa bao la mênh mông của trời nước với vạn vật nhỏ nhoi tạo nên cảm giác lạc lõng, con người cảm thấy cô đơn, bơ vơ. Bao trùm bài thơ là một giọng điệu buồn, dường như nỗi buồn đã thấm sâu vào cảnh Tâm trạng nhân vật trữ tình nỗi lòng của nhà thơ- Nhà thơ cảm thấy cô đơn nhỏ bé trước mênh mông sông nước đất trời, không một niềm hi vọng của sự gần gũi, thân mật “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”, “Bến cô liêu”; “không cầu”; “không chuyến đò” - Những hình ảnh ấy gợi lên sự cô đơn lẻ loi của con người trước vũ trụ bao Nhìn cảnh vật trôi trên dòng sông nhà thơ cảm thấy thấm thía sâu sắc hơn sự trôi nổi của kiếp người.“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng“Bèo giạt về đâu hàng nối hàng”Nỗi buồn của thi nhân chính là nỗi buồn mang tính thời Thời đại thơ mới - thời đại con người mất nước, mất tự do, cuộc sống chỉ là hư ảo, mộng mị, sống không có lí tưởng, không tương lai hạnh phúc. Đây có thể coi là “nỗi buồn đẹp” “Tràng giang đã dọn đường cho lòng yêu giang san đất nước” Xuân Diệu.4. Những đặc sắc nghệ thuật- Cảnh vật vừa mang nét cổ kính thường gặp trong thơ Đường, vừa gần gũi thân thuộc đối với con người Việt Nam.+ Những hình ảnh mang nét đẹp cổ kính+ Nhan đề 2 âm Hán - Việt.+ Câu thơ “Trên sông khói sóng cho buồn…" gợi nhớ câu thơ Thôi Hiệu “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.- Phương thức biểu đạt của thơ Đường Vô hạn thiên nhiên đối lập với hữu hạn của con người, cái nhất thời đối lập với cái vĩnh hằng.+ Thế giới bài thơ là thế giới thân thuộc của đồng quê, của non sông đất nước Việt Chủ đề bài thơBài thơ thể hiện nỗi bâng khuâng trước cảnh trời rộng sông dài của người lữ khách và bài thơ cũng là nỗi buồn thời đại, bộc lộ tình yêu quê hương đất nước của Huy tóm lại là Rõ ràng ai cũng nhận thấy rằng bài thơ Vội vàng có nội dung chủ đạo là lời thúc giục sống nhanh, sống để tận hưởng hết những thi vị của cuộc đời vì đó là tấm lòng yêu cuộc sống, yêu đời tha thiết của tác giả. Trong từng câu thơ của ông, ta bắt gặp được sự chuyển dời, sự trôi qua của thời gian... dễ dàng là qua từng ngữ chỉ thời điểm ví dụ như tháng giêng, tháng năm, mùa xuân... và hơn nữa là ở hình ảnh thơ... "Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?"...Từ đó, tác giả đã đưa ra quan niệm sống rất tích cực. Phân tích ở những đoạn nói về thời gian rõ nét ví dụ nhưXuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,...Tóm lại bạn hãy tìm những câu thơ có sự chuyển dời về thời gian để làm dẫn chứng cho bài luận, cả mạch thơ và đoạn thơ có một sự thống nhất sau đó đưa ra quan niệm sống đúng đắn mà tác giả muốn gửi gắm...Còn về bài thơ Tràng giang có lẽ ta thấy ngay quan điểm "Huy Cận là nhà thơ của không gian" là rất đúng đắn. Bởi vì ngay ở tiêu đề của tác phẩm, "Tràng giang" đã gợi ra một không gian mênh mông rộng lớn. "Tràng" là đọc chệch từ "trường" nhưng tại sao tác giả lại dùng từ "tràng" bởi vì dùng âm vần "ang" sẽ tạo được cảm giác ngân dài, mênh mang, vang vọng, không gian lại càng mở ra rộng lớn hơn... Còn ở các câu thơ thì tác giả đưa ra những hình ảnh, những điểm nhìn không gian từ bao quát đến chi tiết... từ lớn đến nhỏ, hình ảnh vạn vật mở ra theo nhiều chiều, trên dưới, dọc, ngang. Nhờ đó mà người đọc, người nghe càng thấy không gian thêm rộng những phân tích riêng lẻ của hai tác phẩm trên, các em học sinh có thể so sánh cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang có những điểm giống nhau nhưng lại vẫn rất khác biệt, vẫn rất riêng Cảm nhận thiên nhiên, tình yêu quê hương, tình yêu tuổi trẻ, tính thời cuộc của mỗi tâm tư...Không chỉ so sánh cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang, nhiều đề bài còn liên hệ cả 3 tác phẩm Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn vĩ dạ bởi 3 tác phẩm đại diện cho 3 phong cách khác nhau trong cùng một thời kì đất nước còn đang lầm than, vất so sánh cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang yêu cầu các em học sinh cần am hiểu về cả hai tác giả và tác phẩm từ đó mới có thể đứng ở vị trí của một đọc giả, một người đi sau so sánh và trân trọng từng cái tôi chung mà riêng của từng tác giả. Chúc các em làm bài tốt và luôn học tốt môn văn lớp 11. Tràng giang là bài thơ ca hát non sông quốc gia, do vậy dọn đường cho lòng người mới có “Đất nở hoa” và những “Bài thơ thế cuộc” đằm thắm, nồng hậu… sau này. Đọc Tràng giang để ta thêm yêu thêm nhớ đất trời sông núi quê hương. Vậy dưới đây là 8 bài phân tích nhan đề Tràng giang, mời những bạn cùng theo thể bạn quan tâm Dàn ý vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng giang Top 7+ bài văn mẫu Triết lý nhân sinh mới mẻ trong Vội vàng Top 45 mẫu Kết bài Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất Top 9+ mẫu Phân tích Tôi yêu em của Puskin hay nhất Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài Tôi yêu em 5 Mẫu + Dàn ý Mục lụcDàn ý phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng GiangDàn ý số 1Dàn ý số 2Nhan đề Tràng giangPhân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 1Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 2Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 3Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 4Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 5Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 6Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 7 Dàn ý số 1 I. Mở bàiBạn Đang Xem Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang 8 mẫu + Dàn ý – Tràng Giang là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Huy Cận. – Bài thơ thể hiện nỗi buồn, nỗi đơn chiếc trước vũ trụ rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người tình đời, lòng yêu quê hương tha thiết. – Bài thơ có nhan đề và lời đề từ vô cùng độc đá. II. Thân bài * Ý nghĩa nhan đề – Gọi Tràng Giang để tránh trùng lặp với Trường Giang, con sông dài trong thơ đường. – Tràng Giang gợi hình ảnh mênh mông sông nước, dòng sông được mở rộng vô hạn. – Nhan đề vừa gợi ra ấn tượng khái quát và trọng thể, vừa có chút cổ điển. =>Tràng Giang gợi âm hưởng dài, rộng, ngân vang trong lòng người đọc, ánh lên vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. * Ý nghĩa lời đề từ – Thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ của tác giả. Nỗi buồn trước cảnh vũ trụ mênh mông. Hình ảnh của thiên nhiên rộng lớn, nỗi niềm của cái tôi. – Lời đề từ chính là quang cảnh để tác giả triển khai toàn bộ cảm hứng. III. Kết bài Ngay ở nhan đề và lời đề từ của tác phẩm đã gợi sự ấn tượng đối với người đọc và mạch xúc cảm cho cả bài thơ. Xem thêm Top 19+ mẫu Phân tích Tràng giang ngắn gọn nhất Dàn ý số 2 I. Mở bài Giới thiệu vấn đề Tràng giang là bài thơ tiêu biểu của Huy Cận được sáng tác trong giai đoạn này. Đặc biệt, ngay nhan đề Tràng giang cùng lời đề độc đáo đã góp phần dẫn dắt, định hướng đồng thời hấp dẫn người đọc phân tích, khám phá tác phẩm. II. Thân bài 1. Nhan đề – Nhan đề “Tràng giang” không chỉ góp phần hé mở nội dung bài thơ mà tràng giang còn chứa đựng được bao tâm sự, nỗi niềm thầm kín của Huy Cận về thế cuộc thế sự. – Nhan đề “Tràng giang” với vần “ang” ở hai tiếng đã góp phần gợi mở xúc cảm chủ đạo của bài thơ, mang lại cho bài thơ ấn tượng trước hết về sự u buồn dằng dai, nặng nề luôn da diết Tràng giang lại gợi ra không gian vô tận, mênh mông cả về chiều dài và chiều rộng của con sông Vần “ang” kéo dài vô tận như nỗi niềm sầu muộn, suy tư của Huy Cận khi đứng trước sự mênh mông, vô định của dòng sông. – Nhan đề “tràng giang” tuy ngắn gọn nhưng lại làm vượt bậc được những nội dung, tư tưởng, xúc cảm chủ đạo được gửi gắm trong bài thơ. 2. Lời đề từ Lời đề từ của bài Tràng giang “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” như một lời tâm sự đầy da diết nhưng lại có thể ẩn chứa nhiều ngụ ý sâu sắc về nội dung và nghệ thuật. Không gian gợi mở ra trước mắt người đọc là diện không gian lớn, choáng ngợp với tầm vóc của vũ trụ. Lời đề từ của bài thơ đã thể hiện được tâm trạng suy tư, sầu muộn của Huy Cận về sự nhỏ bé của con người trước vũ trụ rộng lớn. Bộc lộ nỗi khắc khoải không gian của hồn thơ Huy Cận III. Kết bài Có thể thấy với nhan đề và lời đề từ đầy tinh tế, độc đáo đã thể hiện được cái tài hoa của Huy Cận, đồng thời bộc lộ được cảm hứng, tư tưởng trung tâm của bài thơ Tràng giang. Xem thêm Phân tích bài thương vợ ngắn gọn hay nhất Nhan đề Tràng giang Huy Cận là thi sĩ của nỗi niềm khắc khoải không gian, bởi vậy, thơ ông luôn xuất hiện những không gian mênh mông rộng lớn, từ đó thi sĩ gửi gắm nỗi niềm tâm trạng của mình. “Tràng giang” là một bài thơ như thế. Qua nhan đề, người đọc không chỉ thấy được sự cổ kính mà còn thấy được nét phong cách mới mẻ hiện đại của Huy Cận. Ban đầu Huy Cận định đặt tên cho bài thơ của mình là “Chiều trên sông” – một cụm từ thuần Việt gợi cảnh ngày tàn trên dòng sông, thế nhưng sau đó, với giác quan của một thi sĩ vừa hiện đại nhưng không kém phần cổ điển, ông đã đổi tên thành “Tràng giang”. Tràng giang là từ Hán Việt và có tên gọi khác là “trường giang”, sử dụng để chỉ con sông dài. Việc sử dụng từ Hán Việt làm nhan đề không chỉ giúp bài thơ gợi cảnh sông nước cụ thể mà nhường nhịn như hiện lên là cảnh sông nước muôn thuở. Dòng sông không chỉ hiện lên với chiều dài, chiều rộng của không gian địa lí mà còn mang chiều sâu lịch sử, văn hóa. m hưởng cổ kính, trọng thể vì vậy được nhấn mạnh hơn bao giờ hết. Huy Cận đã khéo léo biến “trường” thành “tràng” để tạo hiệu quả nghệ thuật sắc sảo. Việc biến âm này vừa khiến người đọc không nhầm lẫn con sông này với sông Trường Giang bên Trung Quốc, đồng thời âm “ang” là âm mở rộng giúp không gian hiện lên không chỉ có chiều dài mà còn như được mở ra về chiều rộng. vì vậy, bài thơ không đơn thuần là mô tả cảnh sông nước mà đã trở thành thi phẩm mô tả không gian mang tầm vóc vũ trụ. Qua nhan đề, người đọc có thể hình dung ra một không gian vũ trụ mênh mông và tác giả nhường nhịn như ngầm báo hiệu con người sẽ đơn chiếc trước không gian rộng lớn mênh mang ấy. Nỗi lòng thi nhân bởi vậy chỉ cần qua nhan đề đã khái quát được đề tài, không những thế khơi gợi cho độc giả bao xúc cảm sâu xa. Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 1 Xem Thêm Tú Xương – Giới thiệu tác giả Trần Tế XươngTrong bài thơ ngày mai in trong tập thơ Riêng chung thi sĩ Huy Cận đã tự bạch lòng mình Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm… Nỗi thương nhớ không biết đã nguôi chưa? Hay lòng chàng cứ tủi nắng, sau mưa Cùng quốc gia mà lặng buồn sông núi?. Thơ Huy Cận trước cách mệnh rất buồn, vì vậy ông thường tìm tới thiên nhiên để Vui chung vũ trụ nguôi sầu trần gian Xuất hiện lần trước hết trên thi đàn văn học Việt Nam năm 1940 với tập thơ Lửa thiêng”. Khi tập thơ xuất hiện ta bắt gặp một giọng thơ buồn ảo não của Một chiếc vong hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu vong hồn của tập thơ Lửa thiêng” chính là bài thơ Tràng Giang”. Như cái tên của nó, bài thơ là một dòng sông dài. Đó là một dòng sông tâm trạng để Huy Cận gửi gắm cái tôi” của một thời thơ mới. Đồng thời Tràng Giang” là bài thơ thể hiện tình yêu quê hương quốc gia một cách thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại thi ca nói chung. Nhờ đó mà Xuân Diệu nhận định Tràng Giang là bài thơ cuối cùng dọn lòng tới với giang sơn Tổ quốc”. Toàn bộ vẻ đẹp ấy kết tinh ngay ở nhan đề cũng như lời đề từ của bài thơ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Bài thơ hấp dẫn người đọc ngay từ nhan đề. Có những người suốt đời lặn lội với văn học nhưng cũng chẳng để lại cho đời một áng văn hay, một bài thơ đẹp. Vì vậy, khi người nghệ sĩ sáng tác ra được một thi phẩm nghệ thuật, họ thường trằn trọc băn khoăn cho cách đặt nhan đề. Nhan đề của một tác phẩm thường chứa đựng nội dung của nó. Viết về một xã hội tăm tối trước cách mệnh, Ngô Tất Tố có tiểu thuyết Tắt Đèn”. Để ngợi ca cái tâm của người nghệ sĩ, những nho sĩ cuối mùa nay vẫn còn vang bóng, Nguyễn Tuân có tác phẩm Chữ người tử tù”,…Nhan đề của bài thơ trong những dụng ý nghệ thuật của thi sĩ Huy Cận. Tràng Giang” vốn là hai từ Hán Việt để chỉ dòng sông dài. Đó là dòng sông Hồng-dòng sông đã gợi ý gợi tứ để thi sĩ Huy Cận viết thành công bài thơ này. Dòng sông ấy vĩnh viễn thuộc về quốc gia Việt Nam, nó có từ thuở khai thiên lập địa. Nó không chỉ dài về không gian địa lý mà còn dài về khoảng thời gian lịch sử. Trong bài thơ Người đi tìm hình của nước”, Chế Lan Viên có viết Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây Trong Tiếng Việt hiện hành có hai từ nhằm mô tả chiều dài đó là từ Tràng” và từ Trường”. Ở đây thi sĩ Huy Cận không viết là Trường Giang” mà lại viết là Tràng Giang”. tương tự đủ thấy sự tinh tế của Huy Cận khi sử dụng Tiếng Việt. Bởi chữ” Trường” chỉ đơn thuần là mô tả chiều dài. Còn chữ Tràng” với âm vang” vốn là âm mở, nó không chỉ mô tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông. Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều sâu chót vót; rộng mênh mông; dài dằng dặc. Dòng sông càng mênh mông, càng vô hạn, vô cùng bao nhiêu thì tâm hồn thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu. tương tự, bài thơ với nhan đề Tràng Giang”đã phần nào bộc lộ được sở trường và phong cách thơ Huy Cận-một thi sĩ luôn bị khiếp sợ bởi bước đi của không gian là Tràng Giang” cũng là một. Bài thơ Tràng Giang” có lời đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài Trong một số thi phẩm nghệ thuật, ta bắt gặp một số lời đề từ. Lời đề từ không phải là một thứ đồ trang sức làm đẹp da cho thi phẩm nghệ thuật. Trái lại lời đề từ là một xuất phát điểm, là một dụng ý nghệ thuật. Nó phân phối cho người yêu thơ chiếc chìa khóa nghệ thuật để khám phá nội dung của thi phẩm. Có lời đề từ là những câu văn xuôi mà tác giả mượn lời của người khác. Ta nhớ tới lời đề từ của Nam Cao trong tác phẩm Nước mắt” khi ông mượn lời của nhà văn Pháp Francois Coppée, ông viết “Người ta chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ. Nước mắt là miếng kính biến hình vũ trụ”. Có lời đề từ là những câu văn vần của chính tác giả mà ta có thể kể tới lời đề từ của Chế Lan Viên trong bài thơ Tiếng Hát Con Tàu” Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu? Lời đề từ còn phân phối những thi liệu chính mà tác giả xây dựng trong bài thơ. Lời đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã gợi lên trước mắt người đọc hai thi liệu chính đó là trời rộng và sông dài. Điều này được kết tinh trong hai câu thơ được xem là trung tâm của bài thơ Tràng Giang Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu Hai khổ thơ còn lại của bài thơ này. nếu như khổ ba tác giả vẽ lên hình ảnh dòng sông dài, mênh mông, rợn ngợp thì khổ thơ thứ tư tác giả lại vẽ lên hình ảnh bầu trời cao rộng. Hơn nữa, lời đề từ còn thể hiện rõ âm điệu, xúc cảm của bài thơ. Tràng Giang” là bài thơ có âm điệu buồn. Đó là nỗi sầu vạn kỉ thấm sâu vào trong trong mạch xúc cảm của bài thơ này mà Lê Di viết “Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước Là Huy Cận khổ nào cũng lặng lẽ u sầu”. Đồng thời lời đề từ còn thể hiện tình yêu quê hương quốc gia thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại trong thi ca nói chung. Đó là những con người “Sống giữa giữa quê hương mà vẫn thấy mình thiếu quê hương” nói như Nguyễn Tuân. Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 2 Huy Cận là thi sĩ tiêu biểu của phong trào thơ Mới ở Việt Nam. Trước cách mệnh, giọng thơ Huy Cận vượt bậc với nỗi buồn u uất, sầu não, thể hiện cái tôi đầy trằn trọc với nỗi niềm tư nhân, nỗi niềm thời thế. Tràng giang là bài thơ tiêu biểu của Huy Cận được sáng tác trong giai đoạn này. Đặc biệt, ngay nhan đề Tràng giang cùng lời đề độc đáo đã góp phần dẫn dắt, định hướng đồng thời hấp dẫn người đọc phân tích, khám phá tác phẩm. Nhan đề được coi là xuất phát điểm trước hết, lối vào quan trọng để người đọc có thể hấp dẫn, định hướng người đọc tới và khám phá tác phẩm. Nhan đề “Tràng giang” cũng vậy, không chỉ góp phần hé mở nội dung bài thơ mà tràng giang còn chứa đựng được bao tâm sự, nỗi niềm thầm kín của Huy Cận về thế cuộc thế sự. Nhan đề “Tràng giang” với vần “ang” ở hai tiếng đã góp phần gợi mở xúc cảm chủ đạo của bài thơ, mang lại cho bài thơ ấn tượng trước hết về sự u buồn dằng dai, nặng nề luôn da diết, triền miên trong xúc cảm của tác giả. Tràng giang là cái nói khác của “trường giang” tức là một con sông dài theo nghĩa Hán Việt nhưng tác giả Huy Cận không sử dụng nguyên cụm từ trường giang mà cải biến thành “tràng giang”, bởi trường giang chỉ gợi ra chiều dài của con sông còn tràng giang lại gợi ra không gian vô tận, mênh mông cả về chiều dài và chiều rộng của con sông, vì vậy mà con sông trở nên dài rộng hơn, mênh mang hơn, xa xôi khắc khoải hơn trong tâm trí của người đọc. Vần “ang” kéo dài vô tận như nỗi niềm sầu muộn, suy tư của Huy Cận khi đứng trước sự mênh mông, vô định của dòng sông. Hình ảnh “tràng giang” trong bài thơ có thể bắt nguồn từ hình ảnh con sông Hồng trong thực tế, đứng trước bến đò Chèm, tác giả đã có những suy tư, bế tắc về thế cuộc, về con người. Nhan đề “tràng giang” tuy ngắn gọn nhưng lại làm vượt bậc được những nội dung, tư tưởng, xúc cảm chủ đạo được gửi gắm trong bài thơ. nếu như nhan đề là lối vào có vai trò gợi mở, hấp dẫn người đọc tới và khám phá bài thơ thì lời đề từ chính là tiêu điểm thâu tóm nội dung của bài thơ. Tuy nhiên, trong thực tế không phải bài thơ nào cũng có lời đề từ. Lời đề từ của bài Tràng giang “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” như một lời tâm sự đầy da diết nhưng lại có thể ẩn chứa nhiều ngụ ý sâu sắc về nội dung và nghệ thuật. Lời đề từ này vốn được trích từ bài thơ “Nhớ hờ” trong tập Lửa thiêng. “Trời rộng”, “sông dài” đã gợi mở ra những diện không gian đa chiều, phạm vi không gian từ cao tới thấp, từ xa tới sắp. Không gian gợi mở ra trước mắt người đọc là diện không gian lớn, choáng ngợp với tầm vóc của vũ trụ. nếu như “bâng khuâng” là cảm giác xao xuyến, trống vắng của con người khi đứng trước không gian rộng lớn của vũ trụ thì “nhớ” lại là sự hoài niệm của con người về một điều gì đó đã xảy ra trong quá khứ. Lời đề từ của bài thơ đã thể hiện được tâm trạng suy tư, sầu muộn của Huy Cận về sự nhỏ bé của con người trước vũ trụ rộng lớn; bộc lộ nỗi khắc khoải không gian của hồn thơ Huy Cận đúng như nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận xét “Người thấy lạc loài giữa cái mênh mông của không gian, xa vắng của thời gian, lời thơ vì vậy mà buồn rười rượi”. Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 3 Tác giả Huy Cận là một thi sĩ rất nổi tiếng tiêu biểu cho phong trào thơ mới cùng với thi sĩ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử… những thi sĩ này đã làm nên một nền thi ca mới cho dân tộc Việt Nam. Với những tác phẩm giàu chất yêu quê hương, dạt dào tình cảm, thể hiện nỗi sầu nhân tình thế thái… Bài thơ “Tràng Giang” là một bài thơ vô cùng đặc sắc, thể hiện được tâm trạng u uất của người thi sĩ, với những lời thơ da diết sâu lắng, tác giả Huy Cận đã thể hiện tình cảm của mình. Thể hiện nỗi buồn man mác trước thời cuộc. Ý nghĩa và nhan đề bài thơ gợi lên trong lòng người đọc rất nhiều ấn tượng sâu sắc khó quên. Nó như vong hồn của bài thơ tạo nên ý tưởng riêng của bài thơ Huy Cận. Đồng thời thể hiện nội dung của bài thơ. Nhan đề của bài thơ “Tràng Giang” chính là lối vào tâm hồn của bài thơ, là những lời gợi mở để người đọc có thể đi vào chi tiết nội dung bài thơ. Những lời tựa “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” càng thể hiện rõ nét hơn nội dung và phong cách sáng tạo của thi sĩ. Trong tác phẩm của mình Huy Cận thể hiện nỗi niềm thầm kín trong nhan đề của bài thơ dù nó chỉ có hai chữ ngắn ngủi “Tràng Giang” nhưng gợi lên cho người đọc rất nhiều cảm tưởng. Chính nhan đề bài thơ đã gợi lên cho người đọc những suy nghĩ riêng và cảm nhận sâu sắc về nội dung bài thơ. Trong bất kỳ một tác phẩm văn học thì nhan đề chính là cái tên của đứa con ý thức. Mỗi tác giả khi lựa chọn lựa đặt tên cho tác phẩm của mình đều suy nghĩ rất nhiều. Cân nhắc rất kỹ lưỡng, thì mới có thể đặt bút viết một nhan đề. Có những thi sĩ viết thơ rồi mới đặt nhan đề bài thơ, nhưng có những người đặt nhan đề trước rồi mới viết những dòng thơ. Nhưng dù sáng tạo theo phong cách nào ta cũng thấy rằng nhan đề chính là nội dung khái quát là vong hồn của một tác phẩm văn học. Hai từ nhan đề “Tràng Giang” thể hiện một dòng sông dài mênh mang, thể hiện những sự phiền muộn của thi sĩ trước nỗi buồn của thời cuộc. Trong cảnh hoàng hôn, mặt trời vừa tắt, gợi lên trong lòng những nỗi buồn man mác, mênh mông như trời biển. Đi theo nhan đề Tràng Giang là lời tựa của bài thơ gợi nhiều xúc cảm “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” thể hiện sự mênh mang của lòng người trước thời cuộc, trước cảnh mênh mông của đất trời. Chính sự mênh mông của không gian mênh mông, con người trở nên nhỏ bé, càng gợi lên nỗi buồn mênh mang, man mác, trong lòng của tác giả. Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 4 Huy Cận là thi sĩ tiêu biểu của phong trào Thơ mới với hai phong cách sáng tác theo từng thời kì của lịch sử. Một giọng thơ u uất, sầu não trước cách mệnh tháng Tám đối lập với giọng thơ sôi nổi, hào hùng sau cách mệnh tháng Tám. Bài thơ “Tràng giang” tiêu biểu cho phong cách u uất, não nuột của Huy Cận trước cách mệnh tháng Tám với nhiều nỗi niềm, trằn trọc. Đặc người người đọc ấn tượng với nhan đề và lời đề từ độc đáo. Nhan đề chính là lối vào, là điểm xuất phát để người đọc có thể lần mò theo đó khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Và bài thơ “Tràng giang” cũng vậy, ý nghĩa, nỗi niềm thầm kín được gửi trọn trong nhan đề vẻn vẹn hai từ “Tràng giang”. Mỗi nhan đề đều toát lên ý nghĩa riêng biệt làm vượt bậc lên chủ đề, tư tưởng của tác phẩm đó. Xem Thêm Dàn ý cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Từ ấy 2 MẫuMột số nhan đề có tính chất gợi mở, một số nhan đề khẳng định nội dung. Tuy nhiên, sáng tạo theo cách viết nào thì nó cũng bao hàm những dụng ý nghệ thuật riêng. Nhan đề của bài thơ có tên “Tràng giang” với vần “ang’ chủ đạo vừa có ý nghĩa gợi mở, vừa tạo nên sự u buồn dằng dai và nặng nề, cứ triền miên trong tiềm thức của tác giả. “Tràng giang” hay còn gọi là “trường giang” là một từ hán việt ý chỉ con sông dài. Nhưng tác giả lại lấy tên “Tràng giang” chứ không phải “Trường giang”. Bởi vốn dĩ “Trường giang” chỉ có ý nghĩa chỉ con sông dài đơn thuần như thế; nhưng trái lại “Tràng giang” vừa nói con sông dài mênh mông, vừa nói lên tâm trạng, nỗi niềm của chính tác giả. Vần “ang” kéo dài ra như nỗi niềm của Huy Cận chưa bao giờ vơi khi đứng trước con sông Hồng rộng lớn mênh mông này. Và hình ảnh cụ thể của dòng “tràng giang” có nhẽ là dòng sông Hồng. Sông Hồng là điểm nhấn khơi gợi xúc cảm của tác giả, đồng thời chồng chất những bế tắc không lối thoát cho những con người muốn đổi mới nhưng không tìm được tuyến đường đi riêng cho chính mình. tương tự nhan đề “Tràng giang” đã được làm sáng rõ, với ý nghĩa sâu xa tương tự. Còn về lời đề từ, không phải bài thơ nào cũng có. Thực ra lời đề từ chính là tiêu điểm thâu tóm nội dung của tác phẩm, nhưng nội dung này chỉ là ở bề chìm, yêu cầu người đọc cần phải đi sâu khai thác mới có thể khám phá ra điều này. Lời đề từ của bài “tràng giang” là “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, một câu thơ thốt lên nhưng đầy ngụ ý nội dung và nghệ thuật. nhường nhịn như âm điệu chủ đạo của lời đề từ là sự nhẹ nhõm, buồn man mác, buồn len lỏi vào tâm hồn của con người. Với giải pháp đảo trật tự cú pháp “bâng khuâng” lên đầu câu, Huy Cận đã khiến người đọc vướng vào những tâm sự không thể giải bài, cũng như khó có thể nói ra cùng ai. Huy Cận muốn mở ra một không gian rộng lớn, mênh mông của dòng sông để đi sâu vào trong chiều dài, chiều sâu của lòng người. Hẳn đây là một dụng ý nghệ thuật tuyệt vời mang lại cho người đọc nhiều xúc cảm khác nhau. Huy Cận đứng trước sông Hồng nhưng lại nhớ chính con sông này, có chăng là tâm sự đứng trước nhiều tuyến đường, nhiều ngã rẽ nhưng lại không biết chọn lựa tuyến đường đi nào trọn vẹn nhất. Với nhan đề và lời đề từ đầy ý nghĩa thế nào, bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đã có sức khiếp sợ lớn đối với người đọc. Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 5 Một tác phẩm thành công phải là tác phẩm được sự kết tinh những tinh hoa, những xúc cảm sâu lắng của tác giả đối với tác phẩm của mình, trong đó bài thơ Tràng Giang luôn cuốn hút người đọc bởi sự tinh tế ngay trong chính nhan đề và lời đề từ của tác phẩm. Bài thơ Tràng Giang là những nỗi niềm sâu kiến của tác giả khi thể hiện trong bài thơ, đó là những ý nghĩa toát lên nhằm làm vượt bậc lên chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Một tác phẩm thành công luôn là tác phẩm có sự quy tụ đầy đủ của cả nội dung và nghệ thuật trong đó nhan đề Tràng Giang gợi lại cho con người cảm giác con sông mênh mông, dài rộng, thể hiện sự mênh mang trong xúc cảm của tác giả. Nhan đề của bài thơ là Trang Giang, với vần điệu đều là vần “ ang” mang những xúc cảm hàm chứa những không gian rộng mở. Tràng Giang vốn là con sông ở Trung Quốc, Tràng tức là dài, ở đây Tràng Giang có ý nghĩa chỉ con sông dài, rộng, mênh mang. Tràng Giang không chỉ nói con sông dài, mà qua đây mượn sông để tác giả nói lên đúng tâm trạng của tác giả khi đứng trước dòng sông với sự mộng mơ, đơn chiếc và tâm trạng buồn của tác giả. Đứng trước con sông rộng dài, tâm trạng của tác giả thử ùa thêm nhiều xúc cảm, sự đơn chiếc, lạc lõng, nỗi nhớ quê hương đang dần hàm chứa mạnh mẽ, thể hiện được tình yêu quê hương, yêu quốc gia. Lời đề từ của bài thơ cũng mang ý nghĩa nói tới hình ảnh dòng sông dài rộng, mênh mông, mộng mơ “ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Trước quang cảnh thiên nhiên rộng lớn đó, sự bâng khuâng trong chính tâm hồn của tác giả trước dòng sông quê hương, thể hiện những khát khao mạnh mẽ của tác giả về cuộc sống, sự mênh mang, nỗi nhớ mênh mang của lời đề từ, không chỉ làm cho người đọc có suy nghĩ về chiều sâu mà trên bề mặt ngôn từ nó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Lời đề từ của bài thơ cũng mang ý nghĩa nói tới hình ảnh dòng sông dài rộng, mênh mông, mộng mơ “ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Trước quang cảnh thiên nhiên rộng lớn đó, sự bâng khuâng trong chính tâm hồn của tác giả trước dòng sông quê hương, thể hiện những khát khao mạnh mẽ của tác giả về cuộc sống, sự mênh mang, nỗi nhớ mênh mang của lời đề từ, không chỉ làm cho người đọc có suy nghĩ về chiều sâu mà trên bề mặt ngôn từ nó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Lời đề từ của bài thơ cũng mang ý nghĩa nói tới hình ảnh dòng sông dài rộng, mênh mông, mộng mơ “ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Trước quang cảnh thiên nhiên rộng lớn đó, sự bâng khuâng trong chính tâm hồn của tác giả trước dòng sông quê hương, thể hiện những khát khao mạnh mẽ của tác giả về cuộc sống, sự mênh mang, nỗi nhớ mênh mang của lời đề từ, không chỉ làm cho người đọc có suy nghĩ về chiều sâu mà trên bề mặt ngôn từ nó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 6 Bài thơ hấp dẫn người đọc ngay từ nhan đề. Có những người suốt đời lặn lội với văn học nhưng cũng chẳng để lại cho đời một áng văn hay, một bài thơ đẹp. Vì vậy, khi người nghệ sĩ sáng tác ra được một thi phẩm nghệ thuật, họ thường trằn trọc băn khoăn cho cách đặt nhan đề. Nhan đề của một tác phẩm thường chứa đựng nội dung của nó. Viết về một xã hội tăm tối trước cách mệnh, Ngô Tất Tố có tiểu thuyết “Tắt Đèn”. Để ngợi ca cái tâm của người nghệ sĩ, những nho sĩ cuối mùa này vẫn còn vang bóng, Nguyễn Tuân có tác phẩm “Chữ người tử tù”,…Nhan đề của bài thơ là “Tràng Giang” cũng là một trong những dụng ý nghệ thuật của thi sĩ Huy Cận. “Tràng Giang” vốn là hai từ Hán Việt để chỉ dòng sông dài. Đó là dòng sông Hồng-dòng sông đã gợi ý gợi tứ để thi sĩ Huy Cận viết thành công bài thơ này. Dòng sông ấy vĩnh viễn thuộc về quốc gia Việt Nam, nó có từ thuở khai thiên lập địa. Nó không chỉ dài về không gian địa lý mà còn dài về khoảng thời gian lịch sử. Trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước”, Chế Lan Viên có viết “Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây”. Trong Tiếng Việt hiện hành có hai từ nhằm mô tả chiều dài đó là từ “Tràng” và từ “Trường”. Ở đây thi sĩ Huy Cận không viết là “Trường Giang” mà lại viết là “Tràng Giang”. tương tự đủ thấy sự tinh tế của Huy Cận khi sử dụng Tiếng Việt. Bởi chữ “Trường” chỉ đơn thuần là mô tả chiều dài. Còn chữ “Tràng” với âm “vang” vốn là âm mở, nó không chỉ mô tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông. Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều sâu chót vót; rộng mênh mông; dài dằng dặc. Dòng sông càng mênh mông, càng vô hạn, vô cùng bao nhiêu thì tâm hồn thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu. tương tự, bài thơ với nhan đề “Tràng Giang”đã phần nào bộc lộ được sở trường và phong cách thơ Huy Cận-một thi sĩ luôn bị khiếp sợ bởi bước đi của không gian. Bài thơ “Tràng Giang” có lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Trong một số thi phẩm nghệ thuật, ta bắt gặp một số lời đề từ. Lời đề từ không phải là một thứ đồ trang sức làm đẹp da cho thi phẩm nghệ thuật. Trái lại lời đề từ là một xuất phát điểm, là một dụng ý nghệ thuật. Nó phân phối cho người yêu thơ chiếc chìa khóa nghệ thuật để khám phá nội dung của thi phẩm. Có lời đề từ là những câu văn xuôi mà tác giả mượn lời của người khác. Ta nhớ tới lời đề từ của Nam Cao trong tác phẩm “Nước mắt” khi ông mượn lời của nhà văn Pháp Francois Coppée, ông viết “Người ta chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ. Nước mắt là miếng kính biến hình vũ trụ”. Có lời đề từ là những câu văn vần của chính tác giả mà ta có thể kể tới lời đề từ của Chế Lan Viên trong bài thơ “Tiếng Hát Con Tàu” “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”. Lời đề từ còn phân phối những thi liệu chính mà tác giả xây dựng trong bài thơ. Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã gợi lên trước mắt người đọc hai thi liệu chính đó là trời rộng và sông dài. Điều này được kết tinh trong hai câu thơ được xem là trung tâm của bài thơ “Tràng Giang” “Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Hai khổ thơ còn lại của bài thơ này. nếu như khổ ba tác giả vẽ lên hình ảnh dòng sông dài, mênh mông, rợn ngợp thì khổ thơ thứ tư tác giả lại vẽ lên hình ảnh bầu trời cao rộng. Hơn nữa, lời đề từ còn thể hiện rõ âm điệu, xúc cảm của bài thơ. “Tràng Giang” là bài thơ có âm điệu buồn. Đó là nỗi sầu vạn kỉ thấm sâu vào trong trong mạch xúc cảm của bài thơ này mà Lê Di viết “Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước Là Huy Cận khổ nào cũng lặng lẽ u sầu”. Đồng thời lời đề từ còn thể hiện tình yêu quê hương quốc gia thầm kín trong tâm hồn Huy Cận nói riêng, của một thời đại trong thi ca nói chung. Đó là những con người “Sống giữa giữa quê hương mà vẫn thấy mình thiếu quê hương” nói như Nguyễn Tuân. Còn Chế Lan Viên viết “Nhân dân ở quanh ta mà sao chẳng thấy Tổ quốc ở quanh mình mà có cũng như không”. Nên chăng ta mượn lại lời nhận định của Hoài Thanh, Hoài Chân trong “Một thời đại trong thi ca” để kết thúc bài viết của mình “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng lại tỉnh, say đắm vẫn lẻ loi. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. Phân tích lời đề từ và nhan đề bài Tràng Giang – Mẫu 7 Bài thơ “Tràng giang” được gợi tứ từ cảnh sông Hồng vào một buổi chiều thu 1939. Theo lời tâm sự của Huy Cận Hồi đó ông theo học ở trường canh nông Hà Nội, lại phải sống trong viễn ảnh quê và sẵn mang trong lòng nỗi đơn chiếc. Cho nên vào một buổi chiều thu khi tác giả đứng ở bờ Nam bến Chèm nhìn cảnh sông Hồng, mênh mang sông nước, bốn bề vắng lặng mênh mông nghĩ về kiếp người nổi trôi nhỏ bé, thi sĩ cảm thấy nỗi buồn của mình cũng như đang được trải ra như những lớp sóng và Huy Cận đã viết “Tràng giang”. Lúc đầu bài thơ có tựa đề “Chiều thu trên sông” và được phác thảo dưới dạng thơ lục bát sau 17 lần trằn trọc, lao động nghệ thuật miệt mài “Tràng giang mới có nhan đề và phương thức như ngày hôm nay. Nó được in trong tập “Lửa thiêng” năm 1940 và trở thành thi phẩm xuất sắc của Thơ mới. Không phải ngẫu nhiên Huy Cận đặt tên cho bài thơ là “Tràng giang” mà đây vốn là từ Hán Việt được biến âm từ hai chữ “Trường giang” sông dài, Huy Cận không có ý mô tả một con sông với chiều dài theo dòng thuỷ triều mà muốn gợi lên một dòng sông mênh mang, vô tận, một dòng sông mang ý vị cổ kính như từ thời tiền sử chảy về – con sông của lịch sử – thi ca – văn hoá. Mặt khác, sự lựa chọn lựa này còn tạo nên sự giao xoa đồng điệu với tâm hồn đơn chiếc của thi sĩ trước cảnh trời nước mênh mang bởi sự lặp lại của âm “ang” gợi cảm giác dòng sông không chỉ dài mà còn mênh mông bát ngát. tương tự, nhan đề của thi phẩm đã bộc lộ cảm hứng chủ đạo của tác giả. Đề từ trong bài thơ này không phải là thứ trang sức nghệ thuật mà nó thường là lợi thế cho cảm hứng cho ý tưởng của tác giả trong tác phẩm. Bài thơ có lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, câu đề từ như thêm lần nữa vén bức rèm bước qua hành lang mở thông vào cõi vô hạn. Với câu đề từ tác giả thử muốn mách nước bảo con người bâng khuâng, nhung nhớ trước trời rộng, sông dài và cũng là trời rộng bâng khuâng nhớ sông dài. Cái độc đáo của câu thơ này chính là sự giao xoa giữa hai nghĩa ấy. Nói như lời của tác giả “Bài thơ tưởng là cảnh nhưng thực sự là tả tâm hồn”, ở đó tình cảm giao hoà vì một từ dòng sông cụ thể, Huy Cận suy nghĩ về dòng sông “Tràng giang’ của thế cuộc, từ nỗi buồn riêng của mình thi sĩ suy nghĩ về thân phận lẻ loi của kiếp người. Nguồn Danh mục Lớp 11 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG ĐỀ CHÍNH THỨC Đề thi… Đọc tiếp SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH THANH HÓA NĂM HỌC 2018-… Đọc tiếp SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH ĐỀ THI CHÍNH THỨC … Đọc tiếp Chuyên đề 2 DẠY HỌC TÍCH HỢP THEO CHỦ ĐỀ… Đọc tiếp SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ Số báo danh ……………………. ……………………… ĐỀ CHÍNH THỨC KỲ THI… Đọc tiếp Đề thi có 02 trang ĐỀ THAM KHẢO NĂM HỌC 2017-2018 MÔN NGỮ VĂN LỚP 12 Thời gian… Đọc tiếp KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2018 Môn thi Ngữ văn Thời gian làm bài 120 phút,… Đọc tiếp SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO … ĐỀ CHÍNH THỨC ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI NĂM HỌC 2017 –… Đọc tiếp Đề bài Hình ảnh buổi chiều và cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài Mộ của Hồ Chí… Đọc tiếp Ôn tập bài Tràng Giang Huy Cận TÁC GIẢ HUY CẬN Huy Cận 1919 – 2005 tên khai sinh là… Đọc tiếp TRÀNG GIANG – Huy Cận – ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ BÀI TRÀNG GIANG Giới thiệu tác… Đọc tiếp Soạn giáo án Ngữ văn 11 theo chủ đề dạy học, soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ, Tràng Giang, Vội… Đọc tiếp Tuyển tập những kết bài mẫu tham bài về các tác phẩm lớp 11 Hai đứa trẻ, Chữ… Đọc tiếp Đề thi hay và khó về những bài thơ mới lớp 11. Phân tích những bài thơ mới ngữ văn… Đọc tiếp Giáo án Ngữ Văn 11 theo chủ đề chủ đề thơ mới Việt Nam . Giáo án theo định… Đọc tiếp Tài liệu Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề thơ Việt Nam hiện đại. Soạn… Đọc tiếp Huy Cận tự bạch với Tràng giang Ta ở đất này, sống cõi này Đất làm ra gió để chim… Đọc tiếp Tài liệu tham khảo dành cho học sinh giỏi, các em có thể tham khảo bài viết sau nhé .… Đọc tiếp Hướng dẫn ôn tập bài Tràng Giang- Huy Cận Phần 1 Kiến thức cơ bản 1 . Vài nét về… Đọc tiếp Ôn tập bài Tràng Giang- Huy Cận. Những dạng đề thi về bài Tràng Giang Dạng 1 Cảm nhận/… Đọc tiếp Tổng hợp các đề văn về bài thơ Tràng giang cùng các câu hỏi về bài Tràng giang được tổng hợp đầy đủ, chi tiết cho các em học sinh lớp 11, 12 ôn luyện về tác phẩm nàyTổng hợp các đề văn về bài thơ Tràng giang cùng các câu hỏi về bài Tràng giang được Đọc tài liệu tổng hợp dưới đây, nhằm giúp các em học sinh hiểu thêm về bài thơ Tràng giang của Huy Cận. Thêm vào đó là việc giúp các em học sinh như tiếp cận được nhiều dạng câu hỏi, đề bài liên quan đến tác phẩm này hơn để không bỡ ngỡ trước các câu hỏi của đề kiểm tra, đề thi Văn lớp 11 và đề thi môn Văn Các câu hỏi về bài Tràng giangNgoài những câu hỏi bài xoay quanh Tràng giang qua phần soạn bài Tràng giang - Huy Cận trong SGK Ngữ văn lớp 11, các em học sinh còn có thể mở rộng thêm kiến thức với những câu hỏi được Đọc tài liệu tổng hợp dưới đây nhằm phục vụ cho các em làm các đề văn về bài Tràng giang được đầy đủ và đạt điểm cao trong các bài thi, kiểm tra quan 1. Nhận xét nhan đề bài thơ?- Tràng giang gợi lên hình ảnh con sông vừa dài vừa rộng. - Tràng giang khơi gợi nỗi buồn mênh mang. - Cách điệp vần ang tạo nên âm hưởng vang xa, trầm 2. Câu thơ đề từ " Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" chuyển tải nội dung gì?- Diễn tả cảm xúc luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn. - Thể hiện tư tưởng cơ bản của bài thơ nỗi buồn trước vũ trụ bao 3. Nhận xét cách sử dụng từ láy?- Mật độ từ láy xuất hiện cao 10 lần trong 16 dòng thơ, có dòng sử dụng hai từ láy Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu. - Các từ láy mang lại cảm giác êm dịu, gợi hình, gợi cảm cho bài thơ. Đặc biệt góp phần hữu hiệu trong việc thể hiện sự quạnh vắng, nỗi cô đơn, buồn da diết của thi nhân trước đất trời hiu hiu, dợn dợn, đìu hiu,...Câu 4. Sự sáng tạo của Huy Cận qua hai câu cuối?- Hai câu này là sự sáng tạo tuyệt vời của Huy Cận dựa trên hai câu thơ của Thôi Hiệu Quê hương khuất bóng hoàng hôn- Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?. Nhưng ở đây, Huy Cận không cần " khói sóng" để gợi nhớ mà vẫn da diết, cháy bỏng nỗi nhớ nhà vì nỗi nhớ ấy luôn thường trực hiện hữu trong lòng ông. - Thi liệu của thơ Đường được vận dụng một cách mới mẻ => tinh thần của thơ 5. Nêu hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo và câu tử bài thơ Tràng giang Huy Cận- Hoàn cảnh ra đời của bài thơTràng giang là bài thơ được sông Hồng gợi tứ. “Một buổi chiều mùa thu năm 1939, khi đứng ở bờ nam bến Chèm nhìn ngắm cảnh sông Hông mênh mông sóng nước, bốn bề bao la vắng lặng, nghĩ về kiếp người trôi nổi tứ thơ Tràng giang đã được hình thành” Huy Cận. Bài thơ được in trong tập Lửa Cảm hứng chủ đạo của bài thơĐứng trước không gian mênh mông của đất trời, trong sâu thẳm lòng người trào dâng nỗi bâng khuâng trước cảnh sông dài trời rộng. Cảm hứng chủ đạo này được nhà thơ thâu tóm trong nhan đề “Tràng giang” và câu đề tù “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài- Cấu tứ của bài thơToàn bộ bài Tràng giang là một nỗi buồn. Bài thơ gồm bốn khố thơ giống như bôn bài tứ tuyệt Đường thi, mỗi khổ thơ là một sự triển khai cửa nồi buồn đó. Mặc dù trong mỗi khổ thơ, cảnh vật và tâm trạng con người được thể hiện khác nhau ở mức độ nào đó nhưng đều có điếm chung hệ thống trong một chỉnh thể là cảnh sóng nước mênh mang bao la và con người với cái tôi nhỏ bé, mang tâm trạng cô đơn, buồn 6. Anh/chị hiếu thế nào về câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Tràng giang – Huy Cận? Đề từ đó có mối liên hệ gì với bực tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ?“Trời rộng”, “sông dài” mang nghĩa khái quát về không gian nghệ thuật của bài thơ. Đó là một khung cảnh sông nước mênh mông, vô biên. “Bâng khuâng”, “nhớ” khái quát lên tâm trạng buồn, cô đơn giữa “trời rộng”, “sông dài”. Mối liên hệ của câu đề từ với bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ + Câu đề từ như thâu tóm hết nội dung tư tưởng của cả bài thơ. Đối diện với cái mênh mông của không gian và cái vô tận của thòi gian, nhân vật trữ tình cảm nhận một cách thâm thía nỗi cô đơn, nhỏ nhoi của chính mình, thấy mình trớ nên bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời vô tận. Càng phát hiện sự mênh mông của cảnh vật, con ngươi ở đây càng lạc lõng. Đó là nỗi niềm của cái tôi nhà thơ.+ Lời đề từ vừa tô đậm thêm cảm giác “tràng giang” vừa thâu tóm cảm xúc chủ đạo vừa gợi ra nét nhạc chủ âm cho cả bài Các đề văn về bài thơ Tràng giang - Huy CậnCác đề văn về bài thơ Tràng giang của Huy Cận được Đọc tài liệu tổng hợp và hướng dẫn các em học sinh cách lập dàn ý, cách viết bài với nhiều bài văn mẫu tham khảo cho mỗi đề bài. Các em có thể tìm hiểu chi tiết cho từng đề bài dưới 1 Nỗi buồn trong khổ đầu bài thơ Tràng Giang - Huy CậnĐề 2 Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy CậnĐề 3 Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giangĐề 4 Bức tranh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng trong bài thơ Tràng giangĐề 5 Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giangĐề 6 Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ tràng giangĐề 7 Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng giang - Huy CậnĐề 8 Phân tích khổ thơ đầu bài Tràng giang - Huy CậnĐề 9 Phân tích khổ thơ thứ hai bài Tràng giang - Huy CậnĐề 10 Phân tích khổ thơ thứ ba trong bài Tràng giangĐề 11 Phân tích khổ thơ cuối bài Tràng giang - Huy CậnĐề 12 Phân tích hai khổ thơ đầu bài Tràng giang - Huy CậnĐề 13 Cảm nhận vẻ đẹp trong khổ thơ cuối bài Tràng giang - Huy CậnLiên hệ, mở rộngĐề 14 So sánh cái tôi trong bài thơ Vội vàng và bài thơ Tràng giangVới các đề văn về bài thơ Tràng giang cùng các câu hỏi về bài Tràng Giang - Huy Cận ở trên, Đọc tài liệu đã tổng hợp đầy đủ những nội dung chính xoay quanh tác phẩm, các em học sinh có thể từ đó liên hệ vào với đề bài cụ thể của mình để triển khai thành những bài văn chi tiết. - TRÀNG GIANG -Đề 1 A. MB - Tràng Giang là 1 trong những bài thơ hay nhất của phong trào thơ Mới cũng là những vần thơ tiêu biểu nhất cho pc ngt độc đáo ấy của HC- Trong thi phẩm, tâm trạng của tác giả - 1 tâm trạng điển hình của cái “tôi” trong thời đại thơ Mới đc thể hiện rất ấn tượng trong đoạn thơ sau Trích thơB. TB I. Khái quát đầu- Xuất xứ Tràng Giang là bài thơ xuất sắc nhất của tập thơ “Lửa thiêng”. Nếu xem “Lửa thiêng” là bó đuốc rực sáng thì Tràng Giang là ngọn lửa sáng nhất trong bó đuốc ấy- HCST Theo tác giả, tứ thơ Tràng Giang đc hình thành vào 1 buổi chiều thu năm 1939 khi nhà thơ đứng ở bờ Nam bến Chèm nhìn dòng sông Hồng mênh mông, vắng lặng mà nghĩ về những kiếp người trôi nổi - Nội dung, chủ đề tp Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, thi phẩm đã bộc lộ nỗi sầu của 1cái “tôi” cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đẫm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha- Đây là khổ thơ mở đầu thi phẩm- Đoạn thơ là pic sông nước mênh mông, ẩn chứa nỗi buồn nỗi sầu nhân thế của nhà thơ vềthân phận lạc loài, phiêu dạtII. Cảm nhận chi tiết1. Luận điểm 1 Câu 1- Khổ thơ mở đầu bằng hình ảnh những con sóng dập dềnh, lan tỏa trên con sóng Tràng Giang “Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp”- Bài thơ có nhan đề “Tràng Giang” và từ Tràng Giang được nhắc lại ở câu thơ đầu tiên.

chủ đề bài thơ tràng giang